Tại cuộc làm việc với ngành giáo dục ngày 15/6 ở Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu chuyển mạnh từ tư duy “quản lý giáo dục” sang “quản trị phát triển giáo dục”; tinh thần ấy đặt ra một yêu cầu rất thực tế: muốn quản trị theo kết quả thì phải có thước đo thường dùng KPI (Key Performance Indicator) để đo mức độ đạt được mục tiêu chính sách hoặc kết quả thực hiện công việc.
Với Nghị quyết 71, dùng KPI để theo dõi thực thi là cần thiết. Vấn đề không nằm ở chỗ có đo hay không, mà là đo cái gì, đo đến đâu và đọc những con số ấy ra sao để đánh giá đúng hiệu quả sử dụng nguồn lực giáo dục và mức độ đột phá phát triển giáo dục.
![]() |
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm phát biểu tại buổi làm việc với ngành giáo dục, đào tạo. Ảnh: TTXVN |
Giáo dục lâu nay thường nhiều báo cáo theo lối quản lý hành chính như: đã ban hành, đã quán triệt, đã triển khai. Những việc ấy cần làm, nhưng không phản ánh hết mức độ đã hiện thực hóa ở trường học thế nào, người học và nhà giáo thay đổi ra sao, địa phương làm thật hay chỉ hoàn thành đầu việc được giao cho đủ thủ tục. Vì vậy, KPI giáo dục không thể chỉ đo đầu ra cuối kỳ, mà phải soi chiếu đủ bốn lớp: đầu vào như ngân sách, đội ngũ, cơ sở vật chất, hạ tầng số và thể chế; quá trình như giao quyền tự chủ, kết nối dữ liệu, hợp tác doanh nghiệp và bồi dưỡng giáo viên; đầu ra như năng lực người học, tỷ lệ bỏ học, việc làm sau tốt nghiệp và thu hẹp chênh lệch vùng miền; cuối cùng là mức độ tiến bộ so với chính điểm xuất phát của từng địa phương.
KPI có ưu điểm rõ ràng khi buộc hệ thống “báo cáo” bằng minh chứng thay vì báo cáo nặng về thủ tục hành chính. Nhưng mặt trái nguy hiểm nhất là dễ đẩy người thiết kế và đánh giá theo KPI vào một điểm mù logic: thiên lệch kết quả đầu ra (outcome bias). Bẫy tư duy này khiến người ta nhìn chằm chằm vào con số cuối kỳ, vội phán xét thành - bại mà bỏ qua quá trình, mức tiến bộ, mặt bằng xuất phát và điều kiện khách quan.
KPI cần có phần chung để giữ định hướng thống nhất toàn quốc, nhưng không thể chỉ dùng một thước đo đầu ra cứng cho mọi địa phương. Hà Nội, TP.HCM hay Đà Nẵng khác rất xa Hà Giang, Điện Biên, Cà Mau về ngân sách, đội ngũ, hạ tầng số, mạng lưới doanh nghiệp và điều kiện dân cư. Nơi có sẵn lợi thế thường dễ có số liệu đẹp; nơi xuất phát thấp dù nỗ lực lớn vẫn có thể đứng sau trên bảng xếp hạng. Vì vậy, bên cạnh chỉ số chung, cần có KPI phản ánh điều kiện thực tế và mức độ tiến bộ của từng địa phương. Nếu không, KPI dễ biến lợi thế sẵn có thành thành tích, còn khó khăn khách quan lại bị quy thành lỗi quản lý.
Khi KPI từ công cụ đánh giá bị biến thành mục tiêu để báo cáo lên trên, tổ chức dễ tìm cách làm đẹp số liệu hơn là cải thiện thực chất. Ở Mỹ, No Child Left Behind từng tạo áp lực lớn lên điểm thi chuẩn hóa, dẫn đến dạy để thi, thu hẹp chương trình, thậm chí có nơi gian lận điểm. Ở Anh, chỉ tiêu giảm thời gian chờ trong hệ thống y tế NHS giúp cải thiện dịch vụ, nhưng cũng sinh ra các thủ thuật ghi nhận bệnh nhân để né chỉ số. Bài học rút ra rất rõ: KPI phải phục vụ quản trị và sửa sai, không được trở thành chiếc khuôn buộc cấp dưới lèo lái báo cáo cho đẹp lòng cấp trên.
Thiên lệch kết quả còn dễ nuôi thêm thiên kiến xác nhận. Người quản lý có thể bám vào các con số đẹp để tự tin rằng chính sách đã đúng, rồi bỏ qua những cảnh báo bất ổn. Đừng vội gọi phân luồng là thành công chỉ vì số học sinh vào các mô hình 9+1, 9+2 sau lớp 9 tăng lên, nếu chương trình đào tạo yếu, chuẩn đầu ra không rõ và cơ hội học tiếp bị hạn chế. Cũng đừng nhầm chất lượng dạy nghề đang tốt lên chỉ vì tỷ lệ có việc làm cao, bởi có thể thị trường địa phương đang thiếu lao động trong ngắn hạn.
KPI không có lỗi tự thân; lỗi nằm ở cách thiết kế và cách đọc thước đo. Nếu chỉ chọn những gì dễ đếm như số lớp tập huấn, số thiết bị được cấp, số chương trình được phê duyệt hay tỷ lệ tốt nghiệp, hệ thống sẽ chạy theo bề nổi, còn năng lực tư duy, văn hóa học đường, đạo đức nhà giáo, khả năng ứng dụng AI hiệu quả và niềm tin của người học lại khuất khỏi tầm nhìn. Vì vậy, khi KPI thấp dưới ngưỡng hoặc không đạt mục tiêu đề ra, điều cần làm trước hết không phải là quy trách nhiệm vội vàng, mà là rà lại toàn bộ chuỗi chính sách: từ giả định ban đầu, công cụ thực thi, nguồn lực, thực quyền của nhà trường đến cơ chế nhận diện và kiểm soát rủi ro. Giá trị thực chất của KPI là chẩn đoán: nơi nào cần thêm nguồn lực, nơi nào cần cởi trói, nơi nào cần hỗ trợ kỹ thuật, mô hình nào đáng nhân rộng. Dùng KPI để thưởng phạt máy móc, cấp dưới sẽ đối phó; dùng KPI để phát hiện vấn đề và điều chỉnh chính sách, đổi mới mới có cơ hội tạo ra chuyển biến thật.
Thực thi Nghị quyết 71 cần KPI, nhưng KPI phải phục vụ đánh giá mục tiêu chính sách, không biến thành bảng đếm việc để “phong thần” hay “đồ sát”. Một bộ KPI tốt phải cho thấy chuỗi thay đổi từ nguồn lực, cách tổ chức thực hiện đến kết quả và mức độ tiến bộ của từng địa phương. Quan trọng hơn, KPI phải trả lời được: giáo dục đã thay đổi ra sao, nhà trường mạnh lên thế nào, chất lượng người học được nâng đến đâu, những yếu kém kinh niên của hệ thống có được xử lý hay không. Không trả lời được những câu hỏi ấy thì khó nói tới đột phá phát triển.
Tác giả: Tiến sĩ Hoàng Ngọc Vinh
Nguồn tin: Báo VOV


